Mùa đông năm ấy, Quỳnh
có việc đi gặp người bà con đang sinh sống ở Thăng Long. Đường về kinh thì xa,
cuốc bộ phải mất cả tuần, mà Quỳnh vẻn vẹn có một quan tiền giắt lưng. Mới ngày
thứ ba túi đã hết nhẵn tiền, chiều xuống, trời âm u, lại điểm mưa lâm thâm, gió
bấc. Đến đầu làng kia, bụng đói cồn cào, vừa may gặp một đứa bé mục đồng dắt
trâu về xóm, Quỳnh mừng rỡ hỏi thăm lối vào nhà ấp trưởng.
Ấp
trưởng làng này vừa giàu sụ, vừa nổi tiếng quỷ quyệt. Qua vài lời chuyện trò với
người lỡ độ đường, hắn đoán thầm khách không phải là hạng tầm thường, bèn vồn vã
mời nghỉ lại và sai giai nhân làm mâm cơm thịnh soạn để thết đãi. Nhưng mấy ngày
liền, khách cứ đi đi lại lại, rồi đến bữa nằm dài đợi cơm rượu hỏi đến chức danh
công vụ thì cứ ậm ậm ờ ờ. Chủ nhà sốt ruột, sinh nghi. Như thường lệ, tối hôm ấy
ăn xong một lúc, Quỳnh cáo lui về phòng riêng giáp với phòng ngủ của chủ nhân.
Được một chập, Quỳnh tắt đ èn lên giường nằm. Biết ở phòng bên có
người vẫn thức rình mò mọi hành vi của mình, lát sau Quỳnh vờ thức dậy rón rén
thắp đ èn, sau đó cẩn thận lần dưới vạt
áo, lấy ra một bọc nho nhỏ bên trong có ba gói vuông, bản bằng nhau. Khách cầm
bút long chấm chấm, mút mút đầu ngòi, hí hoái viết vào từng gói như để đánh dấu
cho khỏi nhầm lẫn (thực ra chẳng viết gì cả), miệng lẩm nhẩm đọc, cố ý cho kẻ
đang rình bên kia khe vách vừa đủ lắng nghe: Độc dược của nhà chúa... Độc dược
của bà chính cung... Độc dược của thái tử. Làm như vậy, đoạn Quỳnh đem gói chung
thành một bọc như cũ, giắt vào lưng áo. Xong rồi tắt đ èn, lên giường nằm trở lại. Khi phòng bên
này bắt đầu tiếng ngáy đều đều, thì phòng bên vọng sang tiếng động khe khẽ. Tên
ấp trưởng bí mật mở chốt cửa ra ngoài, lẻn đến chuồng ngựa... Hộc tốc lao đi
trong đ êm.
Sáng hôm sau,
mới hửng sáng, quan quân từ đâu ập tới nhà ấp trưởng đông nghịt, gươm giáo tua
tủa vây kín mọi phía. Quỳnh mở mắt, chưa kịp búi tóc đã bị trói nghiền lại,
quẵng lên một chiếc xe có bốn ngựa kéo, trẩy về kinh.
Trước phủ
chúa, Quỳnh bị điệu ra xét xử với nhân chứng và vật chứng rành rành. Chúa đích
thân tự tay mở tang vật. Té ra chẳng có gì ghê gớm! Chiếc bọc được gói kỹ lưỡng
trong mấy lần mo cau, phủ ngoài bằng một vuông vải điều là chiếc bọc chứa ở bên
trong mấy gói cơm khô nhỏ, Chúa lấy mũi hài đá té nắm cơm về phía Quỳnh, hất hàm
tỏ vẻ khinh miệt:
- Ta tưởng thế nào... Tài giỏi như Trạng mà cũng
ăn cả cái vứt đi này à?
- Khải chúa.
- Quỳnh đáp lại
không chút ngần ngừ, nhà chúa thừa thãi mới gọi đó là của vứt đi. Còn thần dân
bên dưới đâu dám phung phí một hạt, họ gọi cơm gạo là ngọc thực.
Nói rồi, Quỳnh trân trọng nhặt lấy mấy hạt cơm khô bỏ vào mồm nhai rào rạo. Chúa
biết mình lở lời, đỏ bừng mặt, lại thêm một phen mắc lỡm, tức lộn ruột. Không có
cớ gì buộc tội Quỳnh, chúa truyền nọc tên ấp trưởng ra, bắt lính đánh ba chục
trượng vì tội nói láo và báo sai.
Trước cảnh tượng ấy, Trạng chỉ
biết mỉm cười. Mặc dầu đã được tha bổng, trước khi bái biệt bề trên, Quỳnh vẫn
không quên giễu chúa bằng những câu khéo:
- Xin chúa rộng lượng tha
thứ cho ấp trưởng. Và cho thần được cảm ơn hắn cùng quan quân triều đình.
--------------------------------------------------------------------------------------
Trả Nợ Anh Lái
Đò
|
Quỳnh đi đò ngang thường chịu tiền,
lâu quá hoá nhiều, không trả được.
Lúc anh lái đò đến đòi, Quỳnh
bảo:
- Ừ đợi đấy, mai ta trả.
Rồi mua tre nứa, lá ngồi
làm một cái nhà bè ở giữa sông, trong đề một câu:
"Đ.... Mẹ thằng
nào bảo thằng nào!"
- Và phao ầm lên rằng đó là lần yết thơ của
Trạng.
Thấy nói thơ Trạng, thiên hạ nô nức kéo nhau đi xem. Đi đò
ra đến nơi, thấy độc một câu như thế, chán quá lại đi đò về. Người khác gặp hỏi
thì cáu, chỉ trả lời:
- Ra mà xem!
Thế là thiên hạ
càng thấy lạ, càng xô nhau ra xem.
-----------------------------------------------------------------------------------------------
ÔNG NỌ BÀ
KIA
|
Quỳnh có mấy người tấp
tểnh công danh nay cậy mai cục nhờ Quỳnh gây dựng cho, may ra được tí phẩm hàm
để khoe với làng nước. Một hôm, Quỳmh ở kinh đô về, sai người mời mấy anh ấy lại
bảo:
- Giờ có dịp may, nào các anh có muốn làm ông nọ bà kia thì
nói ngay.
Thấy Quỳnh ngỏ lời thế, anh nào cũng như mở cờ trong
bụng, tranh nhau nhận trước.
Quỳnh bảo:
- Được các anh
về nhà thu xếp khăn gói, rồi lại đây uống rượu mừng với ta, mai theo ta ra kinh
đô sớm.
Anh nào anh nấy lật đật về nhà, vênh váo, đắc chí lắm, có
anh về đến cổng, thấy vợ đang làm lụng lam lũ liền bảo vợ:
- Ít nữa
làm nên ông nọ bà kia, không được lam lũ thế mà người ta chê cười
cho.
Vợ hỏi:
- Bao giờ làm quan mà khoe váng lên
thế?
- Nay mai thôi, sắp sửa khăn gói để mai đi sớm!
Nói xong, lại nhà Quỳnh đánh chén. Anh nào anh nấy uống say tít rồi mỗi anh nằm
một xó. Đến khuya, Quỳnh sai người đem võng, võng anh nọ về nhà anh kia, anh kia
về nhà anh nọ, nói dối rằng: Say rượu ngộ cảm phải bôi dầu xoa thuốc ngay không
thì oan gia!
Các "Bà lớn" đang mơ màng trong giấc mộng, thấy người
gõ cửa mà nói những chuyện giật mình như thế, mắt nhắm mắt mở, tưởng là chồng,
ôm xốc ngay vào nhà, không kịp châm đ èn đom đóm, rồi nào bôi vôi, nào xoa dầu,
miệng lẩm bẩm: "Rượu đâu mà rượu khốn, rượu khổ thế! Ngày mai lên đường mà bây
giờ còn sai như thế này! Nhờ phúc ấm có làm được ông nọ bà kia thì cũng lại
phiền tôi thôi!"
Xoa bóp cho đến sáng, nhìn thì hóa ra anh láng
giềng, các bà ngẩn người mà các anh đ àn ông kia lại càng thẹn, vội cuối gằm mặt
xuống cút thẳng. Về đến nhà, thấy vợ mình cũng đang đỏ mặt tía tai lại nói
ngay:
- Ai ngờ nó xỏ thế. Tưởng ông nọ bà kia là thế nào. Thôi từ
nay kệch đến già!
---------------------------------------------------------------------------------------------
Lõm Quan
Thị
|
Có một ông quan thị đại
nịnh thần, được chúa Trịnh yêu lắm. Ôss;ng ta thường đến chơi nhà Quỳnh, thấy
sách thì cũng mượn xem, mà ít khi trả. Quỳnh ghét cay ghét đắng, định chơi xỏ
một trận cho chừa. Quỳnh bèn lấy giấy trắng đóng thành quyển sách để sẵn. Một
hôm. Thấy bóng quan thị đằng xa, Quỳnh giả vờ cầm sách xem, đợi khi ông ta đến
nơi thì giấu đi. Quan thị thấy Quỳnh giấu, ngỡ là sách lạ, đòi xem, Quỳnh
bảo:
- Sách nhảm có gì mà xem.
Quan thị năn nỉ mãi
cũng không được, về tâu với chúa. Chúa đòi Quỳnh sang hỏi, Quỳnh đoán chắc là
đòi về chuyện quyển sách, mới lấy bút viết mấy câu vào sách bỏ vào tráp khoá
lại, rồi sang hầu. Quả nhiên như thế. Quỳnh tâu:
- Không có sách gì
lạ, chắc thị thần tâu man với Chúa đó.
Chúa thấy Quỳnh chối, lại
càng tin là Quỳnh có sách lạ, bắt phải đem trình. Quỳnh sai người về đem tráp
sang, mở ra, chỉ thấy có một quyển sách mỏng, Quỳnh rụt rè không dám đưa. Chúa
bảo:
- Cứ đưa ra. Chúa mở ra xem chỉ thấy có mấy câu:
- "Chúa vị thị thần viết: Vi cốt tứ dịch, vi cốt tứ dịch. Thị thần quy nhị tấu
viết: Thần phùng chỉ phát, thần phùng chỉ phát".
Chúa ngẫm nghĩ đi
lại không biết nghĩa ra làm sao, bảo Quỳnh cắt nghĩa thì Quỳnh rụt rè
tâu:
- Sách ấy là sách nhảm nhí của tiểu thần chỉ xem khi buồn, sợ
cắt nghĩa ra, rác tai chúa!
Chúa nhất định không nghe, bắt Quỳnh
cắt nghĩa cho được.
Quỳnh vâng lệnh tâu với chúa, câu ấy nghĩa là:
" chúa hỏi thị thần rằng:
Làm xương cho sáo, làm xương cho sáo, thì
thần quỳ mà tâu rằng: Tôi may ngón tóc, tôi may ngón tóc"
Quỳnh cắt
nghĩa, nhưng chúa cũng chưa hiểu ra lại hỏi:
- Đã đ ành nghĩa đen là thế, nhưng mà ý tứ thế
nào?
Quỳnh tủm tỉm không dám nói. Chúa và quan thị đứng hầu bên
càng gặng hỏi.
Quỳnh mới tâu:
- Xin chúa đọc đảo ngược
lại thì ra nghĩa, nhưng mà tục lắm. Bấy giờ chúa với quan thị mới biết Quỳnh
lõm, bảo Quỳnh mang sách về.
Quỳnh ra, quan thị chạy theo trách
Quỳnh nhạo cả chúa, thực là vô phụ, vô quân. Quỳnh đáp lại:
- Ngài
nói tôi vô phụ, vô quân thì bọn thập trường thị đời Hậu Hán là gì? Tôi đã giấu
mà ngài cứ nịnh để đòi ra cho được thì lỗi tại ai?
Quan thị tịt
mất.
----------------------------------------------------------------------------
Đá Gà Với Quan Thị
|
Bọn quan thị, nơi phủ chúa "Gà"
thật không có mà lại cứ hay đá gà. Chúng bỏ ra nhiều tiền, lùng cho được những
con gà hay đem về nuôi rồi đem ra đá độ với nhau. Nghe nói Quỳnh chọi gà với sứ
Tàu thắng, họ liền mang gà đến nhà Quỳnh, đá thử một vài cựa chơi.
Quỳnh vốn ghét bọn quan thị, từ chối nói là không có gà, nhưng họ nhiễu mãi,
phải ừ và hẹn đến mai đi bắt gà về chọi. Bên láng giềng có một con gà trống
thiến, Quỳnh liền qua mượn mang về.
Sáng sớm, mở mắt dậy, đã thấy
quan thị đem gà lại rồi. Quỳnh sai bắt gà trống thiến đem ra chọi. Tất nhiên,
vừa so cựa được một vài nước, thì gà quan thị đá cho gà trống thiến một cựa lăn
cổ ra chết ngay còn gà bọn hoạn quan thì vỗ cánh phành phạch lấy uy, gáy vang cả
sân nhà. Bọn chúng khoái chí vỗ tay reo:
- Thế mà đồn rằng gà của Trạng hay, chọi được gà
Tàu, giờ mới biết đồn láo cả!
Quỳnh chẳng cãi lại, chỉ ôm gà trống
thiến mà rằng:
- Các ngài nói phải, trước con gà này đá hay lắm,
nhưng từ khi tôi thiến nó đi, thì nó đốn đời ra thế!
Rồi ôm gà mà
than thở: "Khốn nạn thân mầy, gà ôi! Tao đã bảo phận mày không dái thì chịu
trước đi cho thoát đời, lại còn ngứa nghề là gì cho đến nỗi thế này! Thôi mày
chết cũng đáng đời, còn ai thường nữa, gà ôi!".
Các quan thị nghe
thế, xấu hổ, ôm gà cút thẳng.
-----------------------------------------------------------------------
|
Ăn Trộm
Mèo
|
Nhà vua có nuôi một
con mèo tam thể quý lắm, xích bằng xích vàng và cho ăn toàn những đồ cao lương
mỹ vị.
Quỳnh vào chầu, trông thấy, liền tìm cách bắt trộm về, cất
xích vàng đi buộc bằng xích sắt, nhốt lại. Đến bữa đợi cho con mèo thật đói,
Quỳnh để hai cái đĩa, một đĩa cơm trộn thịt cá và một đĩa cơm trộn rau. Mèo nhà
vua quen ăn miếng ngon chạy đến chỗ thịt cá chực ăn. Quỳnh cầm sẵn roi, hễ ăn
thì đánh. Mèo đói quá, phải ăn đĩa cơm rau. Dạy như vậy được một thời gian, mèo
quen dần, không bao giờ dám gì ngoài rau nữa mới thả ra. Vua mất mèo, tiếc quá,
cho người đi tìm, thấy nhà Quỳnh có một con mèo tam thể giống như hệt, nghi lắm,
bắt Quỳnh mang mèo vào chầu. Vua xem mèo, hỏi:
- Sao nó giống mèo
của Trẫm thế? Hay khanh thấy mèo của Trẫm đẹp bắt về, nói cho thật!
- Tâu bệ hạ, bệ hạ nghi cho hạ thần bắt trộm, thật là oan, xin bệ hạ đem ra thử
thì biết.
- Thử thế nào? Nói cho Trẫm nghe.
- Muôn tâu
bệ hạ, bệ hạ phú quý thì mèo ăn thịt ăn cá, còn hạ thần nghèo túng thì mèo ăn
cơm trộn với đầu tôm, rau luộc. Bây giờ để hai bát cơm ấy, xem nó ăn bát nào thì
biết ngay.
Vua sai làm thử. Con mèo chạy thẳng đến bát cơm rau, ăn
sạch. Quỳnh nói:
- Xin bệ hạ lượng cho, người ta phú qúy thì cao
lương mỹ vị, bần tiện thì cơm hẩm rau dưa. Mèo cũng vậy, phải theo
chủ.
Rồi lạy tạ, đem mèo về.
--------------------------------------------------------------------
|
Món Ngon
Nhà Trạng
|
Có thời gian, chúa
Trịnh bỗng mắc một căn bệnh không chữa khỏi, đó là căn bệnh ăn không ngon. Tất
nhiên chúa quanh năm sơn hào hải vị, món ngon vật lạ trong thiên hạ đều ê hề
thứa mứa, vậy mà chúa vẫn không cảm thấy ngon miệng được. Một hôm, trạng Quỳnh
vào hầu, chúa than thở;
- Độ rày miệng ta đắng lạ. Dù là của ngon
vật lạ cũng thấy dửng dưng. Trạng có biết món nào ngon không thì nói cho ta
hay?
Trạng nghe nói liền cười mỉm mà tâu ngay:
- Tâu
chúa, xin hỏi chúa đã từng dùng món mầm đá chưa?
- Mầm đá? Chà, món
đó thì chưa cả nghe đến. Chắc là vị ngon lắm?
- Muôn tâu, quả là có
vậy. Thần vẫn dùng khi chán ăn. Ngon lắm ạ!
Chúa nghe vậy hớn
hở:
- Vậy mà ta không biết sớm. Khanh về lo chuẩn bị đi. Ngay chiều
nay ta sẽ thử món ăn này cho biết!
Mới xế chiều chúa ngự đến nhà
Quỳnh thật. Lúc ấy Quỳnh mới sai người lập tức đi lấy mầm đá về ninh cho chúa
dùng. Nồi được nấu ngay trước mặt chúa. Quỳnh bảo đốt lửa thật to cho nước sôi
lên sùng sục và ngồi hầu chuyện chúa hết giờ này sang giờ khác. Gần tối, nồi hầm
đá vẫn sôi chưa cạn, chúa chỉ uống nước trà suông, sót ruột mới
hỏi:
- Mầm đá hầm đã lâu chắc là sắp chín?
Quỳnh thưa
ngay:
- Muôn tâu, xin chúa đợi thêm lát nữa, chưa được
ạ!
Chúa chờ nhưng đã đói lắm rồi, chốc chốc lại hỏi thăm. Trạng
tâu:
- Món này chưa hầm chín thì lâu tiêu lắm. Xin chúa gắng chờ
thêm!
Gần đến khuya, khi chúa đã chờ đợi đến đói rát ruột, Quỳnh
mới thưa rằng:
- Thần e mầm đá vẫn chưa chín tới. Vậy xin chúa dùng
tạm vài món dã vị của nhà thần, khi mầm đá chín, thần sẽ dâng lên
ngay!
Nói xong sai người nhà bưng lên một mâm cơm trắng nóng với
một lọ tương lớn, thật thơm. Chúa đang đói, ăn một hơi mấy chén thật ngon miệng.
Trông thấy cái lọ, Quỳnh có viết hai chữ "Đại Phong" dán trên nắp, chúa thắc
mắc.
- Đại Phong là món ngon gì mà ta chưa từng dùng?
- Muôn tâu, đó chỉ là món ăn thường ngày của một người dân thôi ạ!
- Nhưng đó là món gì?
- Bẩm là... Món tương ạ!
- À,
tương, nhưng sao khanh lại đề là "Đại Phong"?
- Bẩm "đại" là lớn,
"Phong" là gió, tức là gió lớn. Gió lớn thì đổ chùa, đổ chùa thì tượng lo, mà
tượng lo tức là... Lọ tương ạ!
Chúa nghe Quỳnh giảng vòng vo vay
cười vui vẻ rồi nói:
- Tương thì ta có ăn nhưng.... Lâu rồi. Mà vì
lâu nên quên cả vị, không ngờ ăn lại thấy ngon miệng quá! Quỳnh tâu:
- Chúa nói quả không sai. Nhưng chúa ngon miệng là do chúa đã đói
bụng. Khi lúc nào cũng no thì của dù ngon mấy cũng chán ăn ạ!
Chúa
Trịnh hiểu ra, cười bảo:
- Vậy ta hiểu món mầm đá của khanh rồi.
Chờ cho đói thì ăn ngon chớ đá thì hầm bao giờ cho chín được.
-----------------------------------------------------------------
Bà Chúa Mắc
Lõm
|
Một bà Chúa nhan sắc
mặn mà nhưng tính kiêu ngạo, hễ đi ra chơi phố phường thấy ai trái ý là sai lính
bắt liền. Một lần, Quỳnh lững thững đi chơi, gặp kiệu Chúa. Gần đấy có cái ao
bèo, Quỳnh vội vàng chạy xuống cầu ao đá nước chơi.
Chúa biết
Quỳnh, thấy chơi lẩn thẩn như thế mới hỏi:
- Ông làm gì
đó?
Quỳnh ngẩn lên thưa:
- Tôi ở nhà buồn quá, ra "đá
bèo" chơi!
Bà Chúa đỏ mặt tía tai, tức lắm nhưng chẳng dám nói
gì.
-------------------------------------------------------------
Chửi......Vua
|
Một hôm, Quỳnh cho
người ra bảo các hàng thịt là ngày mai Trạng đặt tiệc đãi các quan, cần mỗi hàng
bán cho mấy cân, nhưng phải thái sẵn cho đỡ mắc công người nhà. Các hàng thịt
mừng rỡ, sáng sớm đã thái thịt để đấy chờ người nhà Trạng đến lấy. Ai ngờ đợi
mãi đến trưa mà cũng chẳng thấy ai, họ bèn tới nhà Trạng thì nhà vắng tanh,
chẳng có khách khứa gì cả. Hỏi trạng thì Trạng bảo không biết: "Chắc là có đứa
nào muốn lõm bà con đấy. Cứ gọi thằng nào bảo thái mà chửi":
Bọn
hàng thịt tức mình về cứ gọi thằng bảo thái mà chửi:
- Tiên sư
thằng "Bảo thái"! Tiên sư thằng "Bảo thái".
Bảo Thái là niên hiệu
nhà vua. Thành thử vua bị dân hàng thịt chửi một bữa inh cả phố. Đương nhiên ai
cũng biết cái chuyện xỏ xiên này chỉ có Trạng Quỳnh mới nghĩ ra được nhưng cũng
đ ành làm thinh vì biết lấy bằng cớ
gì mà bắt tội Quỳnh?
------------------------------------------------------
Trạng Chữa
Bệnh
|
Chúa Trịnh có cô con
gái út rất được cưng chiều chẳng may bị bệnh sởi. Nàng quận chúa bị sốt li bì,
nằm liệt giường cả bảy ngày, tất cả các quan ngự y giỏi đều được mời đến mà bệnh
vẫn không lui. Thế cùng, chúa nghĩ đến Trạng Quỳnh và gọi ông tới thăm bệnh cho
quận chúa và bảo:
- Bệnh của con ta có vẻ nặng lắm. Khanh mà hết
lòng chữa khỏi được thì nhất định ta sẽ trọng thưởng.
Trạng vào
thăm, qua kinh nghiệm, biết ngay quận chúa bị bệnh sởi. Bệnh này thì còn phải
sốt cao năm ba ngày nữa, đến khi sởi mọc hết mới giảm sốt. Nhưng vốn không ưa gì
nhà chúa và bọn nịnh quan bất tài, trạng tâu ngay:
- Bệnh quận chúa
rất nặng, chúa phải làm lễ dâng sao thì mới khỏi. Thần xin làm sở tế, nhưng tên
các sao thì nhiều và lạ, vì vậy xin chúa cho phép thần chọn người học rộng, kiến
thức uyên bác trong các quan để đọc sở tế.
Chúa Trịnh chuẩn tấu,
xuống chiếu cho các quan chờ nghe trạng gọi ai, thì người đó phải tuân lệnh và
đọc sở tế.
Các quan
tất nhiên là rất lo lắng bởi sợ không đủ sức để mà đọc sớ Trạng viết. Bọn họ liền cho người
nhà đi dò la nhưng chỉ thấy Trạng
đang sai người nối giấy cuốn lại thành cuộn to như cái bồ để chuẩn bị viết sớ.
Quan nào quan nấy được tin báo vừa to vừa dài khủng khiếp như vậy đều hoảng sợ,
chỉ lo Trạng gọi đến mình mà đọc không xong hẳn là phen này mất hết chức
tước, đặc quyền, đặc lợi. Vì vậy, các ông quan bất tài ấy thay nhau mang đủ thứ
lễ vật đến nhà Trạng mà lo lót đồng thời viện cớ đau lưng, mỏi gối, nhức mắt,
khàn giọng v.v... Khẩn khoản xin Trạng miễn cho mình đọc sớ!
Trạng
điềm nhiên nhận lễ vật, điểm lại tất cả quan triều đều tới nhà mình lo lót, bèn
vào tâu:
- Thần xem phen này trong các quan không một ai có đủ kiến
văn để mà đọc sớ. Vậy thì thần xin
đích thân vì chúa mà đọc sớ tế lần này.
Chúa nghe
vậy rất cảm động, an ủi:
- Cứu bệnh như cứu hỏa, khanh hãy ráng sức
vì ta mà làm thật tốt, ắt là ta sẽ đền ơn!
Đêm hôm lẽ dâng sao,
Trạng sai lính tháo cuộn giấy to bằng cái bồ ra. Giấy vừa mở ra, Trạng nhìn vào
và đọc ngay:
Trên trời
có muôn vì sao.
Đọc xong Trạng đứng yên chờ. Giấy tháo ra mãi ra
mãi, cho đến cuối cuộn mới thấy có thêm mấy dòng chữ, Trạng liền đọc
tiếp:
Có phải vị nào, xin vào ăn xôi. Ăn xong, sao lại lên trời. Độ
cho quận chúa phục hồi sức xuân Cẩn cáo!
Các quan cực kỳ kinh ngạc
vì bài sớ kì dị của Quỳnh. Thế nhưng cúng xong được một ngày thì sởi mọc hết,
quận chúa hạ sốt ngay. Rồi sởi bay, quận chúa khỏi bệnh.
Chúa Trịnh
mừng lắm, cho là Trạng có tài cảm hoá được quỷ thần, trọng thưởng Trạng rất
nhiều. Riêng Trạng vừa được thưởng, vừa được "Hối lộ", về nhà đóng cửa cứ cười tủm tỉm một
mình.
-----------------------------------------------------
Trang Thẳng Tiến 1 , 3>>>>> |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét